TỔNG QUAN ĐỀ TÀI

Tên đề tài: Nghiên cứu, đánh giá tài nguyên đất sản xuất nông nghiệp phục vụ chuyển đổi cơ cấu cây trồng chính có hiệu quả tại tỉnh Nam Định.

Thời gian thực hiện: Từ năm 2015 - 2016

Chủ nhiệm đề tài: Trần Minh Tiến

Thư ký đề tài: Trần Anh Tuấn

Nam Định là tỉnh ven biển nằm ở phía Nam vùng châu thổ sông Hồng, nằm giữa sông Hồng và sông Đáy, có lợi thế với bờ biển dài 72 km, bao gồm 09 huyện và 1 thành phố loại I trực thuộc tỉnh. Mặc dù trong những năm qua Nam Định đã có những phương án chuyển đổi cơ cấu kinh tế, dần hướng tới là một tỉnh công nghiệp, nhưng hiện nay cơ bản vẫn là một tỉnh nông nghiệp. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả, thành tựu đã đạt được; kinh tế nông nghiệp, thủy sản của tỉnh cũng còn một số tồn tại, hạn chế như: Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất nông, lâm, thủy sản chưa tương xứng với tiềm năng. Chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi nhìn chung còn chậm; tỷ lệ cơ giới hóa trong các khu sản xuất nhất là khâu gieo cấy và thu hoạch thấp. Cơ sở hạ tầng kỹ thuật phục vụ sản xuất nông nghiệp, thủy sản tuy đã được quan tâm đầu tư, nâng cấp song chưa thực sự đáp ứng tốt yêu cầu của sản xuất hàng hoá, đất đai đang dần bị thoái hóa, quá trình hạn hán, lũ lụt, xâm nhập mặn và chặt phá rừng ngập mặn để nuôi trồng thủy sản vẫn đang xảy ra. Việc thực hiện nhiệm vụ: “Nghiên cứu, đánh giá tài nguyên đất sản xuất nông nghiệp phục vụ chuyển đổi cơ cấu cây trồng chính có hiệu quả tại tỉnh Nam Định” là rất cần thiết và cấp bách đối với sự phát triển nông nghiệp nói riêng và sự phát triển kinh tế - xã hội nói chung của tỉnh Nam Định.

Để thuận tiện trong việc lưu trữ, quản lý và sử dụng, hệ thống cơ sở dữ liệu không gian (bản đồ) về tài nguyên đất sản xuất nông nghiệp của tỉnh sẽ được tư liệu hóa và lưu trữ dưới dạng online (đưa lên website của Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Nam Định).

Nội dung 1: Xây dựng bộ cơ sở dữ liệu về hiện trạng số lượng và chất lượng đất sản xuất nông nghiệp tỉnh Nam Định.

Nội dung 2: Đánh giá mức độ thích hợp đất đai và xác định các yếu tố hạn chế về đất đối với các cây trồng chính của tỉnh Nam Định.

Nội dung 3: Đề xuất phương án sử dụng đất và giải pháp khoa học công nghệ nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất cho một số cây trồng chính của tỉnh Nam Định. Xây dựng cơ sở dữ liệu tài nguyên đất sản xuất nông nghiệp trực tuyến.

Chi tiết >>
TÀI NGUYÊN ĐẤT NÔNG NGHIỆP

Tiềm năng đất đai cho nông nghiệp của tỉnh Nam Định

Cho trồng trọt:

Nam Định là tỉnh trọng điểm nông nghiệp của đồng bằng Bắc Bộ. Người dân Nam Định có truyền thống giỏi trồng lúa từ lâu đời, trong những năm gần đây đang dẫn đầu cả nước về chuyển đổi cơ cấu giống lúa và mùa vụ. Đặc biệt là giống lúa lai đã được gieo cấy ở tất cả 312 hợp tác xã nông nghiệp trong toàn tỉnh. Các huyện Xuân Trường, Trực Ninh, Ý Yên, Giao Thuỷ, lúa xuân muộn chiếm tới 97% diện tích, lúa lai chiếm tới 50-70% diện tích. Lúa lai đã góp phần quyết định làm cho năng suất lúa Nam Định dẫn đầu cả nước.

Việc mở rộng đất trồng lúa của Nam Định rất hạn chế, do đất chưa sử dụng của tỉnh chủ yếu nằm ven biển, đất đai bị nhiễm mặn, thích hợp cho trồng rừng phòng hộ và nuôi trồng thuỷ sản.

Tiềm năng tăng vụ trên đất trồng lúa màu khoảng 45.000-50.000 ha Tiềm năng chuyển đổi cơ cấu giống lúa, đặc biệt là giống lúa đặc sản và lúa chất lượng cao ở các huyện phía nam của tỉnh khá lớn khoảng 35.000-40.000 ha.

Tiềm năng đất trồng màu và cây công nghiệp ngắn ngày: đây là loại hình sử dụng đất rất đa dạng, có thể thích nghi trên diện rộng khoảng trên 75.000 ha.

Đất trồng cây lâu năm: có khả năng phát triển trên đất vườn tạp và đất ruộng 1 vụ lúa để trồng cây ăn quả với diện tích khoảng 5.000-10.000 ha.

Cho nuôi trồng thuỷ sản:

Nam Định là tỉnh có tiềm năng thuỷ sản lớn trên cả 3 vùng nước mặn, lợ, ngọt. Vùng ngập mặn ven biển có diện tích trên 20.000 ha, có khả năng nuôi trồng thuỷ sản. Sản lượng thu hoạch hàng năm bao gồm tôm sú 300 tấn/năm, tôm rảo 400 tấn/năm, cua biển 320 tấn/năm, các loại cá bống, cá bớp, rong câu, chỉ vàng có sản lượng hàng trăm tấn.

 Ở vùng cồn bãi xa đất liền, ngư dân dùng lưới quây lại thành những “vuông nuôi” nhuyễn thể, đặc biệt là vạng, vọp, mỗi năm thu hoạch khoảng 5.000 tấn.

Vùng nước ngọt nội đồng có diện tích 12.000 ha, bao gồm ao, hồ nhỏ trong dân, vùng hồ mặt nước lớn, vùng ruộng chiêm trũng và trên 6.000 ha sông ngòi.  Sản lượng thuỷ sản nước ngọt khoảng 8.000 tấn/năm, với các loại tôm càng xanh, rô phi đơn tính, chép, trôi, trắm, trê lai.

Cho lâm nghiệp:

Diện tích thích nghi cho lâm nghiệp khoảng 12.000-14.000 ha, chủ yếu là trồng rừng phòng hộ ven biển thuộc các huyện Giao Thuỷ, Hải Hậu và Nghĩa Hưng

Chi tiết >>
HÌNH ẢNH NÔNG NGHIỆP NAM ĐỊNH
TÀI LIỆU - BÁO CÁO
DỮ LIỆU BẢN ĐỒ
LIÊN KẾT WEBSITE
THỐNG KÊ TRUY CẬP

    Đang online :

  Số lượt đã truy cập :